Chú ba quyển kinh Sinh thần chương (cổ Linh bảo). Giải cửu thiên chi khí kết thành hình thần, liên hệ thai nguyên và công tụng chương. Khác bản kinh gốc đã có trong danh sách loại trừ; đây là lớp chú sớ.
Ứng dụng: Học sâu Sinh thần chương; đối chiếu với các bản giải nghĩa khác (Đổng Tư Tĩnh v.v.).
Chú bản Nguyên đại của Hoa Dương Phục (1332, có Tương Thủ Thanh tự) giải thích cổ Linh Bảo kinh bằng nội đan. Nguyên kinh nói tam bảo (Thiên Bảo, Linh Bảo, Thần Bảo) hóa sinh huyền-nguyên-thủy tam khí, hợp thành cửu khí; cửu thiên sinh thần chương là “phi huyền chi khí” kết linh văn, tụng cửu biến thì bào nguyên tuyên thông, thai kết giải căn, hồn môn luyện tiên, phách hộ bế quan… đến nhất thời sinh thần. Chú quy mỗi “biến” thành hỏa hậu nội đan: nhất biến thiên nhất sinh thủy (mệnh môn khai), tứ biến bế phách hộ (tâm hỏa thận thủy giao), cửu biến thánh thai cụ túc. Thuật ngữ: tam nguyên dục dưỡng, cửu khí kết hình, hỗn hợp bách thần, ẩn vận nội danh, cốt nhục đồng phi.
⚡ Ứng dụng: Dùng khi tu đan muốn “sinh thần”: tụng cửu chương theo trình tự chín biến, kết hợp tồn tưởng bào thai, hồn phách, ngũ tạng để kết thánh thai và độ vong.
🔗 Liên quan: 洞玄靈寶自然九天生神章經;靈寶無量度人上品妙經;黃庭內景經
Chú sớ chứng minh thần không phải ban sẵn trọn vẹn: chín khí tự nhiên sinh chín thần, con người có thể «chương» (vận hành bài chương) để nuôi thần hoàn chỉnh. Sinh thần là kỹ thuật trùng khớp cửu khí–cửu cung–cửu khiếu, không chỉ tín ngưỡng có thần hộ.
1) Liên hệ cửu cung mệnh đĩa/phi tinh với cửu khí; 2) Mỗi ngày nuôi một thần–khiếu (mắt, tai, tâm…); 3) Tụng chương theo can chi phù khí; 4) Kiểm tra mộng–thần thức như chỉ báo thần về; 5) Kết hợp tiết khí xuân sinh để khởi «sinh thần».
Khác Hoàng Đình thiên kinh chú trọng tạng phủ–thần danh, bản này nhấn cửu khí tự nhiên tiền thiên. Khác nội đan hậu thiên luyện tinh, nó đi từ «sinh thần» gốc. Chú sớ làm cầu nối nghi tụng Linh Bảo với lý khí số.