Chỉ nam nội đan Toàn chân: “thất phản thất chân” (hình thần tương cố → hợp đạo) kèm đồ và kệ. Hạ thiên nói nhập thất tĩnh tọa và các cảnh nghiệm. Lấy “dĩ tâm ấn không, giác ngộ bổn chân” làm tông.
Ứng dụng: Tu nội đan Toàn chân; tham khảo lộ trình thất giai đoạn hình–thần.
Nguyên đại, Kim Nguyệt Nham biên, Hoàng Công Vọng (Đại Si) truyền, thuộc Động Chân bộ phương pháp. Chỉ thẳng “toàn chân bả bính”: trước khi cha mẹ chưa sinh, chân đã toàn; sinh bất tăng, tử bất giảm. Phá nghi “kim đan phải khẩu thụ sư truyền”: vật hóa (cá hóa long, tước hóa cáp…) chứng minh nhất niệm kiên cố + xúc khí cũng biến; người ngộ toàn chân, niệm niệm tương tục, chuyên khí trí nhu, thủ nhất vong nhất thì tính đình mệnh trụ, đan thành. Hệ “thất phản thất chân hợp đồng ấn tử”: hình thần tương cố → tương bạn → tương nhập → tương bão → câu diệu → song xả → phổ độ. Nhập thất chú trọng thanh tịnh, giới thực, không chấp thần quang vọng tưởng. Thuật ngữ: toàn tính bản chân, hình thần câu diệu, thủ nhất vong nhất.
⚡ Ứng dụng: Dùng khi tu toàn chân nhập thất: theo bảy giai đoạn hình thần, giữ thanh tịnh, không chấp cảnh giới giả, trực chỉ bản chân.
🔗 Liên quan: 碧虛子親傳直指;鍾呂傳道集;悟真篇
Chỉ thẳng con đường Toàn Chân: tính–mệnh song tu phải cụ thể, không khẩu thiền suông. «Chỉ» nghĩa là điểm đúng chỗ dụng công (tâm–thân–hơi), chứng minh giải ngộ không thay thế hành trì tuần tự.
1) Mỗi giai mệnh gắn một công phu tính (tĩnh) và một công phu mệnh (khí); 2) Đặt chỉ tiêu chứng nghiệm (nhiệt, tĩnh, định); 3) Tránh bàn huyền khi chưa có chứng; 4) Dùng đại vận để chọn giai luyện nặng/nhẹ; 5) Sư chỉ hoặc tự chỉ bằng nhật ký công phu.
Khác Bắc Tông thuần tính, bản này «trực chỉ» cân bằng mệnh. Khác đan kinh ẩn ngữ, nó nhằm phá tối nghĩa. Vì mang tên «trực chỉ», logic trung tâm là chống mơ hồ và chống lệch song tu.